Đến nội dung chính
Thư viện GKNơi khơi nguồn tò mò
Tiếng Việt

Nền kinh tế càng tiết kiệm càng nghèo đi: Nghịch lý của tiết kiệm (Paradox of Thrift)

Khi cảm thấy kinh tế sắp đi xuống, việc đầu tiên mọi người làm là thắt chặt hầu bao. Họ ít ăn ngoài hơn, hoãn mua quần áo hay đồ gia dụng, và gửi số tiền còn dư vào ngân hàng. Chi tiêu dè sẻn và tiết kiệm khi tương lai bấp bênh là một lựa chọn vô cùng sáng suốt đối với một người hay một gia đình.

Thế nhưng khi tất cả mọi người cùng đưa ra lựa chọn ấy một lúc thì câu chuyện lại khác. Doanh thu của cửa hàng và nhà máy giảm, việc làm và thu nhập giảm, và cuối cùng ngay cả tổng tiền tiết kiệm của cả xã hội cũng có thể giảm theo. Ý tưởng cho rằng tiết kiệm, vốn là đức tính tốt với mỗi cá nhân, lại có thể gây hại cho cả nền kinh tế được gọi là ‘Nghịch lý của tiết kiệm (Paradox of Thrift)’. Nó còn được gọi là Nghịch lý tiết kiệm tiền (Paradox of Saving).

Trong bài viết này, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu cơ chế hình thành nghịch lý của tiết kiệm, lịch sử mà ý tưởng này đã trải qua, cách nghịch lý bộc lộ trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, và cả những lập luận phản bác nó.


Nền kinh tế càng tiết kiệm càng nghèo đi: Thế giới của nghịch lý tiết kiệm

Sơ đồ khái niệm về nghịch lý của tiết kiệm: trong thời kỳ suy thoái, nếu nhiều hộ gia đình cùng lúc cắt giảm chi tiêu và không có nguồn cầu nào khác bù vào, chi tiêu hộ gia đình giảm có thể kéo theo doanh thu doanh nghiệp giảm, sản lượng và thu nhập giảm, rồi khả năng tiết kiệm thu hẹp. Điều này không có nghĩa tiết kiệm cá nhân là xấu, và được phân biệt với vai trò của tiết kiệm đối với đầu tư dài hạn.
Sơ đồ khái niệm minh họa dùng ví dụ giả định. Sơ đồ thể hiện khả năng có thể xảy ra trong những điều kiện nhất định và không bảo đảm kết quả. Nguồn: St. Louis Fed (2012).

Số tiền tôi tiết kiệm là thu nhập của người khác

Tại quầy thu ngân của một tiệm bánh trong khu phố, khách hàng đưa tờ tiền và chủ tiệm mỉm cười nhận lấy, phía sau là những chiếc bánh mì mới nướng trên kệ gỗ

Chìa khóa để hiểu nghịch lý của tiết kiệm nằm ở thực tế rằng khoản chi tiêu của người này chính là thu nhập của người khác. Số tiền tôi tiêu ở tiệm bánh trở thành doanh thu của chủ tiệm, và chủ tiệm dùng số tiền đó để mua bột mì và trả lương cho nhân viên. Tiền cứ thế đi từ tay người này sang tay người khác và trở thành thu nhập của nhiều người.

(1) Chi tiêu giảm thì doanh thu giảm
Khi nhiều người cùng lúc cắt giảm tiêu dùng, lượng hàng hóa mà cửa hàng và doanh nghiệp bán ra sẽ giảm. Sức mua hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế, tức tổng cầu, bị suy yếu.

(2) Doanh thu giảm thì thu nhập giảm
Khi hàng không bán được, doanh nghiệp cắt giảm sản xuất, rút ngắn giờ làm hoặc cho người lao động nghỉ việc. Khi đó thu nhập của người lao động và người tự kinh doanh cũng giảm theo.

(3) Thu nhập giảm thì tiết kiệm cũng giảm
Những người bị giảm thu nhập không còn dư dả để tiết kiệm như trước. Ban đầu họ dè sẻn để để dành được nhiều hơn, nhưng khi mọi người đều nghèo đi, tổng tiết kiệm của cả xã hội vẫn giữ nguyên hoặc thậm chí còn giảm.

Sai lầm khi cho rằng điều đúng với bộ phận thì cũng sẽ đúng với tổng thể được gọi là Ngụy biện hợp thành (Fallacy of Composition). Nghịch lý của tiết kiệm là một ví dụ tiêu biểu cho ngụy biện này.


Từ Truyện ngụ ngôn về bầy ong đến Keynes

Một cuốn sách bìa da cũ mở ra trên bàn gỗ trong một thư viện cổ, bên cạnh là khung tổ ong nhỏ có ong mật đậu, một chiếc kính lúp và một cây bút lông ngỗng

Ý nghĩ rằng chỉ biết tiết kiệm thì đất nước có khi lại gặp khó khăn đã có từ rất lâu. Năm 1714, bác sĩ gốc Hà Lan Bernard Mandeville đã chỉ ra trong cuốn ‘Truyện ngụ ngôn về bầy ong (The Fable of the Bees)’ rằng thật sai lầm khi nghĩ sự tiết kiệm giúp một gia đình giàu lên cũng sẽ mang lại hiệu quả tương tự cho cả quốc gia.

Vào thế kỷ 19, những học giả cho rằng tiêu dùng thiếu hụt và tiết kiệm quá mức khiến kinh tế đi xuống đã nghiên cứu sâu vấn đề này. Năm 1892, John M. Robertson người Anh đã viết trong cuốn sách ‘Ngụy biện về tiết kiệm (The Fallacy of Saving)’ rằng nếu toàn dân chỉ chăm chăm tiết kiệm thì số tiền tích lũy được thực ra sẽ ít hơn nhiều.

Người đưa ý tưởng này vào trung tâm của kinh tế học là nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes. Năm 1936, trong ‘Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (The General Theory of Employment, Interest and Money)’, Keynes giải thích rằng mọi nỗ lực cắt giảm tiêu dùng để tiết kiệm nhiều hơn đều làm giảm thu nhập của người khác, nên rốt cuộc sẽ tự phá hỏng chính mình. Sau đó, năm 1948, nhà kinh tế học người Mỹ Paul Samuelson đã giới thiệu nó với tên gọi nghịch lý của tiết kiệm trong giáo trình ‘Kinh tế học (Economics)’, và cụm từ này trở nên phổ biến rộng rãi.


Nghịch lý bộc lộ trong khủng hoảng kinh tế

Buổi chiều ngày thường trên một con phố mua sắm, nhiều cửa hàng kéo cửa cuốn đóng cửa, vài người đi đường đút tay vào túi đi ngang qua con phố vắng vẻ

Nghịch lý của tiết kiệm đặc biệt hiện rõ khi nền kinh tế đóng băng. Vì ai cũng lo lắng nên không chi tiêu, kinh tế càng tệ hơn; kinh tế tệ hơn khiến người ta càng lo lắng và lại càng không chi tiêu, tạo thành một vòng luẩn quẩn.

  • Nghịch lý nợ (Paradox of Debt): Khi mọi người cùng lúc thắt lưng buộc bụng để trả nợ, thu nhập giảm xuống và việc trả nợ thực ra lại càng khó khăn hơn.
  • Nghịch lý giảm đòn bẩy (Paradox of Deleveraging): Do nhà kinh tế học người Mỹ Hyman Minsky đề cập, nghĩa là khi hộ gia đình, doanh nghiệp và ngân hàng cùng lúc cắt giảm nợ và tài sản, những biện pháp phòng bị thận trọng đối với từng bên lại làm trầm trọng thêm nỗi đau của cả nền kinh tế.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nghịch lý này lại được chú ý. Tháng 4 năm 2009, Janet Yellen, khi đó là Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang San Francisco, đã dùng nghịch lý giảm đòn bẩy của Minsky để giải thích xu hướng người tiêu dùng cắt giảm mua sắm để tăng tiết kiệm, còn doanh nghiệp hủy bỏ đầu tư và cho nhân viên nghỉ việc để giữ tiền mặt. Lập luận rằng vào những lúc như vậy chính phủ nên tăng chi tiêu để bù đắp phần cầu bị sụt giảm cũng bắt nguồn từ nghịch lý này.


Những phản bác đối với nghịch lý của tiết kiệm

Các nhà kinh tế học ngồi quanh bàn thảo luận trong một phòng hội thảo đại học sáng sủa, giữa bàn có một lọ thủy tinh đựng tiền xu và một mô hình nhà máy nhỏ

Nghịch lý của tiết kiệm là một ý tưởng quan trọng của kinh tế học Keynes, nhưng không phải nhà kinh tế học nào cũng chấp nhận nó. Các phản bác chính như sau.

(1) Giá giảm thì cầu sẽ phục hồi
Lập luận này cho rằng khi cầu giảm, giá hàng hóa sẽ hạ xuống, và mức giá rẻ hơn lại kích thích người ta mua sắm. Tuy nhiên cũng có ý kiến phản bác rằng trên thực tế giá cả và tiền lương không dễ giảm xuống.

(2) Tiết kiệm là vốn liếng cho đầu tư
Lập luận này cho rằng tiền tiết kiệm gửi ngân hàng sẽ trở thành nguồn vốn cho doanh nghiệp vay, giúp hạ lãi suất và tăng đầu tư. Nhưng con đường này có thể bị chặn khi người dân cất tiền trong nhà, hoặc khi lãi suất đã gần 0 và không thể hạ thêm.

(3) Về dài hạn, tiết kiệm thúc đẩy tăng trưởng
Lập luận này cho rằng về lâu dài, vốn tích lũy từ tiết kiệm được dùng cho nhà máy, máy móc và công nghệ, giúp nền kinh tế lớn mạnh. Vì vậy, nghịch lý của tiết kiệm chủ yếu được hiểu là câu chuyện đúng trong những giai đoạn ngắn khi kinh tế suy thoái.

Nghịch lý của tiết kiệm không có nghĩa là thói quen chi tiêu dè sẻn là xấu, mà là lời cảnh báo rằng khi lựa chọn của tất cả mọi người gộp lại, kết quả có thể hoàn toàn khác với tính toán của từng cá nhân. Dừng lại thêm một chút để cân nhắc xem điều tốt cho tôi có tốt cho tất cả chúng ta hay không, đó chính là bước đầu tiên của tư duy kinh tế vĩ mô.