Đến nội dung chính
Thư viện GKNơi khơi nguồn tò mò
Tiếng Việt

Khả năng vận dụng điều đã học vào hoàn cảnh mới: Chuyển giao học tập (Transfer of Learning)

Có những học sinh giải phương trình rất thành thạo trong giờ toán nhưng lại bó tay khi gặp cùng phương trình ấy trong giờ khoa học. Ngược lại, người chơi piano lâu năm đôi khi học đánh máy rất nhanh. Điều học được ở một nơi có thể phát huy tác dụng ở nơi khác, nhưng cũng có thể hoàn toàn không được vận dụng. Hiện tượng này được gọi là “chuyển giao học tập (Transfer of Learning)”.

Nói một cách đơn giản, chuyển giao học tập có nghĩa là “kiến thức hoặc kỹ năng đã học trước đó ảnh hưởng đến việc học và giải quyết vấn đề trong tình huống mới”. Muốn những điều học ở trường được sử dụng cả bên ngoài phòng thi thì phải có sự chuyển giao, vì vậy chuyển giao gắn liền với câu hỏi giáo dục rốt cuộc tồn tại để làm gì.

Trong tài liệu này, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu khái niệm và bối cảnh ra đời của chuyển giao học tập, các loại chuyển giao, những thí nghiệm cho thấy chuyển giao không diễn ra dễ dàng như ta nghĩ, cùng các phương pháp giảng dạy hỗ trợ chuyển giao.

Nguyên lý và cách phân loại chuyển giao học tập. Trong ví dụ giả định pha nước với dung dịch cô đặc theo tỷ lệ 2 trên 1, tỷ lệ chung được áp dụng cho lượng mới. Chuyển giao tích cực và tiêu cực được phân biệt theo tác dụng hỗ trợ hay cản trở, còn chuyển giao gần và xa là cách phân loại riêng theo mức độ tương đồng giữa các tình huống; hiểu nguyên lý, so sánh nhiều ví dụ và luyện tập trong tình huống mới giúp thúc đẩy chuyển giao.
Hiểu nguyên lý, so sánh ví dụ và luyện tập trong tình huống mới để hỗ trợ chuyển giao học tập. Đây là ví dụ giả định dùng để minh họa. Nguồn: National Research Council (2000), How People Learn, chương 3.

Nguyên lý giúp điều đã học được chuyển sang hoàn cảnh khác

Chuyển giao học tập là gì?

Trên chiếc bàn gỗ trong phòng nghiên cứu kiểu cũ có ánh nắng chiếu qua cửa sổ là những miếng bìa hình chữ nhật, tam giác và hình tròn với kích thước khác nhau; một nhà nghiên cứu mặc áo gi lê quan sát học sinh đang so sánh chúng.

Cho đến đầu thế kỷ 20, niềm tin vào “thuyết rèn luyện hình thức (Formal Discipline)” vẫn phổ biến trong trường học. Theo quan niệm này, học những môn khó như tiếng Latinh hay hình học sẽ phát triển toàn diện các năng lực tinh thần như trí nhớ và sự chú ý, tương tự như rèn luyện cơ bắp.

Những người đầu tiên dùng thực nghiệm để kiểm chứng niềm tin này là hai nhà tâm lý học người Mỹ Edward Thorndike và Robert Woodworth. Trong bài báo năm 1901, hai ông báo cáo rằng những người được luyện tập ước lượng diện tích của một hình dạng nhất định không đạt mức tiến bộ tương đương khi chuyển sang các hình có hình dạng khác.

(1) Thuyết yếu tố đồng nhất (Theory of Identical Elements)
Thorndike cho rằng hai nhiệm vụ càng có nhiều yếu tố chung thì chuyển giao càng dễ diễn ra. Việc luyện viết các chữ cái giúp ích cho viết từ vì hai hoạt động có nhiều động tác trùng nhau.

(2) Phản bác lý thuyết cơ bắp tinh thần
Nghiên cứu này đã làm lung lay mạnh mẽ quan niệm rằng chỉ cần học các môn khó thì trí óc sẽ trở nên giỏi giang trên mọi phương diện. Nó cho thấy con người học những điều cụ thể hơn nhiều so với một năng lực chung mơ hồ.


Các loại chuyển giao học tập

Trong ánh sáng buổi sáng trên lối đi công viên, có thể thấy từ phía sau một người đang đạp xe ở phía trước và một người điều khiển thành thạo chiếc xe tay ga nhỏ ở phía sau trên cùng lối đi.

Chuyển giao được chia thành một số loại theo chiều tác động và khoảng cách.

  • Chuyển giao tích cực (Positive Transfer): Trường hợp việc học trước đó hỗ trợ việc học mới (ví dụ: người biết đi xe đạp dễ giữ thăng bằng khi đi xe máy).
  • Chuyển giao tiêu cực (Negative Transfer): Trường hợp việc học trước đó lại gây cản trở (ví dụ: người từng lái xe ở quốc gia lưu thông bên phải cứ đi nhầm sang làn ngược chiều khi lái xe ở quốc gia lưu thông bên trái).
  • Chuyển giao gần (Near Transfer): Vận dụng vào tình huống tương tự tình huống đã học (ví dụ: giải bài toán chỉ khác các con số so với ví dụ trong sách giáo khoa).
  • Chuyển giao xa (Far Transfer): Vận dụng vào hoàn cảnh có biểu hiện bên ngoài rất khác với tình huống đã học (ví dụ: liên tưởng đến nguyên lý kiểm soát trung tâm học được từ cờ vua khi xây dựng chiến lược kinh doanh).

Nhà giáo dục học người Mỹ David Perkins và nhà tâm lý học giáo dục người Israel Gavriel Salomon đã chia con đường diễn ra chuyển giao thành hai hướng. Đó là “con đường thấp (Low Road)”, khi hành vi đã được luyện tập đầy đủ tự động xuất hiện trong tình huống tương tự, và “con đường cao (High Road)”, khi người học chủ động rút ra nguyên lý chung rồi liên hệ với tình huống mới. Việc cảm giác lái ô tô con vẫn được phát huy ngay cả khi lần đầu lái xe tải nhỏ là một ví dụ về con đường thấp.


Vì sao chuyển giao khó diễn ra?

Trên bàn có mô hình pháo đài bằng đá trên đồi với các con đường tỏa ra mọi phía và những nhóm lính đồ chơi nhỏ đặt trên từng con đường; bên cạnh là mô hình cơ thể người với nhiều tia sáng mảnh hội tụ tại một điểm, cùng bàn tay của học sinh đặt gần đó.

Có một thí nghiệm cho thấy rõ chuyển giao khó hơn chúng ta tưởng.

[Thí nghiệm] Câu chuyện pháo đài và bài toán khối u

Hai nhà nghiên cứu Mary Gick và Keith Holyoak thuộc Đại học Michigan, Hoa Kỳ, trước tiên cho người tham gia đọc câu chuyện về một vị tướng chia quân thành nhiều nhóm nhỏ, cho họ tiến đến pháo đài cùng lúc theo nhiều con đường và chiếm được pháo đài. Sau đó, họ hỏi làm thế nào để điều trị một khối u khi dùng một chùm tia bức xạ mạnh sẽ làm tổn thương cả mô lành. Đáp án là cho nhiều chùm tia bức xạ yếu từ mọi phía hội tụ tại một điểm.

Theo nghiên cứu của hai người được công bố vào đầu thập niên 1980, khoảng 75% người tham gia được gợi ý thử vận dụng câu chuyện đã tìm ra cách giải này, nhưng khi không có gợi ý, tỷ lệ chỉ khoảng 30%. Ngay cả trong số những người hoàn toàn không đọc câu chuyện, khoảng 10% cũng tìm ra đáp án, nên có thể thấy số người tự nhận ra sự tương đồng không nhiều.

(1) Thói quen bị chi phối bởi biểu hiện bên ngoài
Khi biểu hiện bên ngoài khác nhau, như giữa một câu chuyện quân sự và một bài toán y học, con người thường không liên hệ được chúng dù cấu trúc bên trong giống nhau.

(2) Kiến thức gắn chặt với bối cảnh
Kiến thức chỉ được tiếp thu trong một lớp học cụ thể hoặc một dạng bài cụ thể thường khó được nhớ đến khi ra khỏi bối cảnh đó.


Chiến lược giảng dạy giúp tăng cường chuyển giao

Trong lớp học sáng sủa có ánh nắng chiếu qua cửa sổ lớn, học sinh trung học phổ thông ngồi quanh bàn theo nhóm, đặt nhiều đồ vật và bản phác thảo cạnh nhau để so sánh, còn giáo viên cúi người xuống đặt câu hỏi.

Chuyển giao là mục tiêu cần được chủ động thiết kế, thay vì trông đợi nó tự diễn ra. Perkins và Salomon khuyến nghị kết hợp hai phương pháp.

(1) Ôm sát (Hugging)
Làm cho tình huống học tập gần với tình huống sử dụng thực tế nhất có thể. Một ví dụ là thực hành phỏng vấn thử thay vì nghe giảng về kỹ năng phỏng vấn; phương pháp này chủ yếu hỗ trợ chuyển giao theo con đường thấp.

(2) Bắc cầu (Bridging)
Yêu cầu người học diễn đạt bằng lời các nguyên lý chung của nội dung đã học và hỏi có thể áp dụng chúng vào đâu trong các lĩnh vực khác. Đây là phương pháp mở đường cho chuyển giao theo con đường cao.

(3) Ví dụ đa dạng và sự so sánh
Khi đặt nhiều ví dụ có biểu hiện bên ngoài khác nhau cạnh nhau và yêu cầu tìm điểm chung, người học sẽ phát triển khả năng nhìn vào cấu trúc thay vì bề ngoài.

(4) Suy ngẫm và siêu nhận thức
Sau khi giải một bài toán, nếu người học nhìn lại xem mình đã dùng nguyên lý nào, khả năng họ nhớ đến nguyên lý đó trong tình huống tiếp theo sẽ tăng lên.


Chuyển giao học tập là cây cầu giúp việc học không bị giới hạn trong lớp học mà nối liền với cuộc sống. Khả năng mang điều đã học đi xa đến đâu và vận dụng được đến mức nào cũng quan trọng như việc đã học những gì và học được bao nhiêu.

Tự hỏi mình có thể dùng một điều vừa học hôm nay vào hoàn cảnh khác như thế nào chính là bước đầu tiên của việc học sống động.